Chat with us, powered by LiveChat HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN VÀ DOANH NGHIỆP

HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN VÀ DOANH NGHIỆP

Hệ thống tài khoản kế toán và doanh nghiệp. Có nhiều hệ thống tài khoản kế toán, nhưng trong chương trình môn nguyên lý kế toán, chúng ta đi nghiên cứu hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp vì nó phản ánh tương đối đầy đủ và chi tiết các tài khoản.

Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp được áp dụng thống nhất hiện hành là hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo Quyết định số15/2006/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 20/03/2006. Danh mục cụ thể các tài khoản được trình bày trong hệ thống tài khoản kế toán như sau:
DANH MỤC HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP

1 2 3 4 5 6 7 8 9

 

10

Hệ thống tài khoản doanh nghiệp nêu trên, bao gồm 92 tài khoản tồng hợp được chia ra thành 10 loại, trong đó có 86 tài khoản từ loại 1 đến loại 9 (gọi là tài khoản trong bảng) và 6 tài khoản loại 0 (được gọi là tài khoản ngoài bảng).

Số hiệu tài khoản được mã hoá theo một nguyên tắc thống nhất, chữ số đầu tiên là loại tài khoản, chữ số thứ 2. là nhóm tài khoản, chữ số thứ 3 là tài khoản cấp 1, chữ số thứ 4 là tài khoản cấp 2, chữ số thứ 5 là tài khoản cấp 3.

2. Kết cấu chung của các loại tài khoản trong hệ thống tài khoản

– Đối với tài khoản loại 1, loại 2: là tài khoản tài sản
Những tài khoản này được sử dụng để phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có ở doanh nghiệp bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định.

Kết cấu chung của nó giống như kết cấu tài khoản tài sản:
– Đối với tài khoản loại 3, loại 4: là tài khoản nguồn vốn
Những tài khoản này đều có đối tượng phản ánh là nguồn gốc hình thành các loại tài sản của đơn vị nên kết cấu chung của nó giống như kết cấu của tài khoản nguồn vốn.

– Đối với tài khoản loại 5, loại 7. Là tài khoản doanh thu
Những tài khoản này phản ánh toàn bộ các khoản doanh thu, thu nhập cũng như các khoản làm giảm doanh thu, thu nhập của các hoạt động kinh doanh nên kết cấu chung của nó giống như kết cấu của tài khoản doanh thu.

– Đối với tài khoản loại 6, loại 8: Là tài khoản chi phí.

Những tài khoản này đều có đối tượng phản ánh chi phí của các hoạt động kinh tế đã diễn ra trong kỳ nên kết cấu chung của nó giống như kết cấu của tài khoản chi phí.
– Đối với tài khoản loại 9: Xác định kết quả kinh doanh

Kết chuyển là việc chuyển kết số của một tài khoản này sang tài khoản khác làm cho nó có số dư bằng không.

Nghiệp vụ này thường diễn ra vào thời điểm cuối kỳ nhằm tổng hợp chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm hay xác định kết quả hoạt động kinh doanh.

Khi thực hiện nghiệp vụ kết chuyển cũng phải tuân thủ nguyên tắc ghi sổ kép.

– Đối với tài khoản loại 0: Tài khoản ngoài bảng

HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN VÀ DOANH NGHIỆP
Những tài khoản ngoài bảng có kết cấu: số phát sinh tăng bên Nợ, phát sinh giảm bên Có, số dư ở bên Nợ.

Phương pháp ghi sổ tài khoản loại 0 là ghi sổ đơn, không có quan hệ đối ứng tài khoản.

Lưu ý.

– Trong 86 tài khoản thuộc từ loại 1 cho đến loại 9 và 7 tài khoản loại 0 có một số tài khoản mà kết cấu của nó không thuộc những loại kết cấu vừa nêu trên, đó là các tài khoản có tính chất điều chỉnh số liệu cho một tài khoản nào đó.

Tùy theo nội dung cụ thể mà tác đụng điều chỉnh có thể điều chỉnh tăng hoặc điều chỉnh giảm.
– Trường hợp điều chỉnh tăng thì kết cấu của tài khoản điều chỉnh sẽ thống nhất với kết cấu của tài khoản được điều chỉnh. Tức là phải có kết số cùng bên để khi lên báo cáo thì được cộng lại để làm tăng.

Trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp hiện nay không có tài khoản mang tính chất điều chỉnh tăng.
– Trường hợp điều chỉnh giảm thì kết cấu của tài khoản điều chỉnh sẽ ngược lại với kết cấu của tài khoản được điều chỉnh tức là phải có kết số khác bên để khi lên báo cáo tổng hợp lại thì khấu trừ lẫn nhau để làm giảm số cần điều chỉnh.

Trong hệ thống tài khoản có các tài khoản điều chỉnh giảm là:

TK 129 – Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn.
TK 139 – Dự phòng phải thu khó đòi.
TK 159 – Dự phòng giảm giá hàng tổn kho.
TK 229 – Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.
TK 214 – Hao mòn TSCĐ.

Những tài khoản này có kết cấu ngược với kết cấu chung, kết cấu của chúng như sau:

Những tài khoản điều chỉnh trên đây khi ghi số liệu vào bảng cân đối kế toán phải ghi bằng số âm để giảm trừ các khoản cần điều chỉnh.

Để khỏi nhầm lẫn người ta đã đánh dấu (*) vào các chỉ tiêu phải ghi số âm.

3. Tài khoản tổng hợp và tài khoản phân tích

Đây là cách phân loại tài khoản theo tính khái quát của nội dung phản ánh trên các tài khoản cần thiết.

– Tài khoản tổng hợp: Là những tài khoản phản ánh một cách tổng quát giá từ các loại tài sản, nguồn vốn hay quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong hệ thống tài khoản, tài khoản tổng hợp là tài khoản cấp I, những tài khoản này có 3 chữ số (hệ thống hiện hành có 92 tài khoản kể cả tài khoản ngoài bảng).
– Tài khoản phân tích: Là những tài khoản phản ánh một cách chi tiết hơn, cụ thể hơn những nội dung kinh tế đã được phản ánh trên tài khoản tổng hợp để phục vụ cho những yêu cầu quản lý khác nhau.
Tùy theo mức độ chi tiết mà các tài khoản phân tích có thể là tài khoản cấp 2, cấp 3 hay các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết.
Tài khoản cấp 2 còn gọi là tiểu khoản, là một hình thức chi tiết số tiền đã được phản ánh trên tài khoản cấp I, nó được nhà nước quy định thống nhất về số lượng, tên gọi và số hiệu cho từng ngành cũng như toàn bộ nền kinh tế, nguyên tắc của từng tài khoản cấp 2 giống như cấp I. Tài khoản cấp 2 có 4 chữ số.
Sổ kế toán chi tiết: Là một hình thức phản ánh một cách chi tiết hơn số liệu đã được phản ánh trên các tài khoản cấp I, cấp II. Ngoài chỉ tiêu giá trị, sổ kế toán chi tiết còn kết hợp phản ánh một số chỉ tiêu khác như hiện vật, thời gian lao động và các chỉ tiêu cần thiết khác.

Ví dụ:

Tài khoản 211 – TSCĐ hữu hình, theo quy định có 6 tài khoản cấp 2 như sau:

2111 – Nhà cửa, vật kiến trúc
2112 – Máy móc, thiết bị
2113 – Phương tiện vận tải, truyền dẫn
2114 – Thiết bị, dụng cụ quản lý
2115 – Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
2118 – TSCĐ khác.

Mỗi tài khoản cấp 2 như trên lại có thể chi tiết thành nhiều nhóm.

Mỗi nhóm lại bao gồm nhiều thứ khác nhau.

Tình hình sử dụng của từng đối tượng tài sản cố định khác nhau phải được theo dõi riêng trênmột trang sổ khác nhau gọi là thẻ tài sản cố định.

4. Mối quan hệ giữa tài khoản tổng hợp và tài khoản phân tích

Tài khoản tổng hợp tập hợp nhiều loại tài sản hoặc quá trình kinh tế có phạm vi sử dụng hoặc nội dung giống nhau.
Tài khoản phân tích, ngược lại, phân chia đối tượng hạch toán kế toán thành nhiều bộ phận nhỏ để phản ánh.
Tài khoản tổng hợp và tài khoản phân tích có mối quan hệ mật thiết không những về nội dung phản ánh mà cả về kết cấu ghi chép.

Thể hiện ở nguyên tắc:

– Tổng số dư đầu kỳ, cuối kỳ của tất cả các tài khoản phân tích phải đúng bằng số dư đầu kỳ, cuối kỳ của tài khoản tổng hợp.
– Tổng số phát sinh bên Nợ, số phát sinh bên Có của tất cả các tài khoản phân tích phải đúng bằng số phát sinh bên Nợ, số phát sinh bên Có của tài khoản tổng hợp.
– Để đảm bảo nguyên tắc này thì khi phản ánh vào tài khoản tổng hợp những nội dung có liên quan đến tài khoản phân tích nào thì kế toán phải đồng thời ghi chép vào tài khoản phân tích đó.
– Việc phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các tài khoản tổng hợp gọi là kế toán tổng hợp.
– Việc phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các tài khoản phân tích gọi là kế toán chi tiết.

Kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết phải tiến hành đồng thời với nhau tạo cơ sở cho việc đối chiếu kiểm tra số liệu.

Trong đó kế toán tổng hợp cung cấp những chỉ tiêu tổng quát về tài sản, nguồn vốn, kết quả sản xuất kinh doanh.

Kế toán chi tiết cung cấp số liệu chi tiết có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ tài sản cũng như trong việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết những vấn đề phát sinh một cách nhanh chóng, nhạy bén.

HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN VÀ DOANH NGHIỆP

Related Posts

Call Now Button  
Đánh giá HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN VÀ DOANH NGHIỆP 9/10 dựa trên 4567 đánh giá.